[Trans] Kpop Vocal Analysis

TVXQ! ChangMin’s Vocal Analysis | kpopvocalanalysis.

Re-Analyst: ahmin3 (Originally analyzed by Chung)

Translator: Yuki Ame.

Link to post

DO NOT TAKE OUT WITHOUT MY PERMISSION!

changmintvxq vocal

Quãng giọng:

A2 ~ C6 (3 quãng, 1 cung và 1 nửa cung)

Supported Range (Vùng hỗ trợ)

D3/E♭3 ~ E4/F4

Phân loại chất giọng:

Nam cao trữ tình nhẹ nhàng.

Ưu điểm/ Thành tựu:

Quãng giọng hoà âm (mixed voice) rất rộng, có khả năng pha giọng tới G5.

Giọng giả thanh sáng và thoải mái, quãng giọng cao tới D5/ E♭5.

Có khả năng tạo nên nốt belt ổn định và không pha head voice tuỳ thời điểm, với quá trình tốt hơn.

Có khả năng đôi khi hỗ trợ quãng giọng thấp xuống tới quãng E♭3/D3.

Vị trí cổ họng và thanh quả quản ổn định, thư giãn và thoải mái, thể hiện sự hỗ trợ trong mixed voice thường lên tới F4.

CÓ khả năng điều khiển quá trình pha giọng tốt, mặc dù đôi khi xuất hiện căng thẳng.

Mặc dù căng thẳng hiện diện trong mixed voice, sự pha giọng thường thiên về head voice chi phối, làm giảm đi áp lực và căng thẳng hơn là sự pha giọng do ngực chi phối.

Có khả năng tạo head voice ổn, thay vì là một giọng giả thanh kèm theo nhiều hơi thở.

Điểm yếu:

Tính chất âm mũi xuất hiện thường xuyên trong giọng hát của anh, dù là vô tình.

Các nốt dưới D3 thể hiện sự sử dụng quá mức không cần thiết của kĩ thuật airy và trở nên khó để nghe thấy.

Thiếu đi sự hỗ trợ và âm lượng trong quãng giọng thấp.

Có xu hướng để cho cổ họng, cơ thanh quản và lưỡi trở nên căng thẳng khi lên nốt cao, khiến thanh âm trở nên “nhõng nhẽo” và bị bó hẹp.

Quãng giọng giả thanh có thể thoải mái tuỳ lúc, nhưng vẫn thiếu đi quá trình và vị trí chính xác trong sự pha giọng.

Vocal runs thường xuyên không chính xác và staccato mang hơi hướng robot, thiếu đi sự kết nối tạo thành quãng thanh âm mượt mà trôi chảy (flow)

Giọng giả thanh (falsetto), mixed voice và nốt cao của head voice gò ép trở nên căng thẳng, áp lực và càng rõ nét khi càng lên cao. (Translator’s Note: high notes của ChangMin rất cao, nhưng xét về kĩ thuật thì không phải do bản chất voice range rộng mà lên được high notes cao, kĩ thuật thanh nhạc sai khi tạo high notes này có lẽ là điểm trừ lớn nhất trong giọng hát của ChangMin.)

Ngữ điệu không ổn định, lúc có lúc không và không phù hợp trong một phần trình diễn liên tục và trong khi tạo vocal runs.

Sử dụng kĩ thuật “smile” trong nốt belt, tạo ra thanh quản ở vị trí cao hơn và nhiều căng thẳng cho cơ bắp.

Vị trí thanh quản không ổn định trong âm vực thấp của anh.

Sự chuyển đổi từ head voice sang mixed voice không thực sự mượt mà.

Mixed voice khá đồng đều, mặc dù thiên về head voice và có thể tạo ra căng thẳng cho phần quãng giọng bị thiếu, bản thân tông giọng không phải là linh hoạt.

Âm vực:

Âm vực thấp: Không quá tệ trong việc hỗ trợ cũng như tạo ra thanh âm. Có khả năng giữ sự ổn định với thanh quản và tạo ra tông giọng thấp không kèm hơi thở rõ rệt xuống tới E♭3 và D3. Các nốt dưới mức ấy có thời điểm quá mức rõ rệt khi xuất hiện hơi thở hoặc chỉ đơn giản là với thanh quản ổn định, nhưng âm lượng nhỏ tới gần như không diện hiện. Sự thiếu hụt ở âm lượng mất đi trong quá trình thể hiện. Anh có thể thi thoảng hạ thấp thanh quản của mình để tạo nốt thấp, nhưng điều này cũng không được chính xác.

Âm vực hỗn hợp: Một trong những người sở hữu head voice mạnh và mixed trong âm vực cao nhất trong số các idol nam của K-pop. Anh có khả năng giữ vững vị trí thanh quản và chuyển êm thanh âm tới F4 với không quá nhiều khó khăn, nhưng các nốt phía trên nữa sẽ có xu hướng chói tai, căng thẳng, mang nhiều head voice và bị gò bó. Có xu hướng kéo mixed voice lên quá cao và tạo căng thẳng vượt quá giới hạn của giọng, kết quả là thanh âm bị vỡ và gây khó chịu.

Âm vực cao: Head voice và falsetto có xu hướng đi chung với nhau phụ thộc vào quãng âm vực mà anh hát. Thường xuyên chuyển sang giọng giả thanh nếu anh chuyển từ giữa quãng giọng hỗn hợp nếu anh hát ở trong quãng âm vực thấp hơn của giọng giả thanh, và trên hết thì có xu hướng tạo ra head voice thật hơn thi thoảng, trong khi lúc khác thì lại gò ép lại vào giọng giả thanh. Có đôi khi dễ dàng lên được E5 và cao hơn, nhưng thanh quản không cố định và thanh âm mang tính mũi cao.

Độ nhạy giọng:

Giọng của ChangMin lẽ ra nên cho phép anh phát triển lên leggiero tenor (nam cao nhẹ nhàng) hoặc tenor di grazia (nam cao trữ tình) nếu như anh có thể thực sự phát triển màu sắc (coloratura) trong giọng hát của mình. Giọng của anh cao và sáng thế nên độ nhạy giọng sẽ khá dễ dàng, tuy nhiên anh lại thường hay thể hiện là vocal runs của mình kết thúc với sự vụng về, staccato quá đà và thiếu đi sự chính xác trong giọng thật. Anh thường có xu hướng không thực sự trôi chảy trong vocal runs và khá cẩu thả, cần phải tạo ra flow mượt mà hơn và độ chính xác cao hơn.

Phân tích tổng thể:

Giọng hát của ChangMin là một trong những chất giọng gây chú ý và độc đáo trong K-pop. Là thành viên của nhóm nhạc được tinh tuyển TVXQ! của SM, anh có khả năng thể hiện rõ ràng sự độc đáo trong giọng hát của mình không chỉ ở tông giọng, mà cả trong kĩ thuật. Giọng của ChangMin có âm vực khá cao, nhưng anh không là khác hơn ngoài việc đơn giản là một giọng nam cao trữ tình nhẹ nhàng, tông giọng thật của anh vẫn mang vẻ nam tính, tuy nhiên do sự thiếu hụt đi giọng thật trong việc pha giọng, anh có khả năng tự khiến bản thân mình hát với một âm vực cao hơn nhiều so với các giọng ca nam khác của K-pop, và điểm khiến anh tách biệt với họ là điểm ấy. Giọng của anh cao, thanh sắc, đôi khi chói tai, sáng và có chút chất lượng cao, tuy nhiên lại thiếu đi sự đầy đủ và chiều sâu trong tông giọng.

Vùng âm vực thấp rõ ràng là phàn yếu và kém phát triển nhất trong quãng giọng của anh. Dù có thể xuống tới A2, nhưng giọng của anh thiếu hụt đi âm lượng, độ vang và quá trình trong âm vực thấp, chỉ thực sự có khả năng hỗ trợ từ khoảng D3 trở lên. Thêm vào đó, có thời điểm giọng của anh hơi thiếu đi sự chuẩn bị và im lặng kể cả trong âm vực này, mặc dù sự liên kết vẫn có thể hiện diện. Với các nốt dưới D3, giọng anh sẽ trở nên mất đi tông thật và nhiều hơi thở, trong khi lúc khác, anh sẽ hạ thấp thanh quản của mình để làm dày giọng thoát ra để tạo nên nốt mà anh biết là bình thường mình sẽ không thể hạ thấp tới được. Ví dụ như trong bài trình diễn “Duet” của TVXQ!, khi các nốt quãng C3 của anh được tạo ra bằng cách hạ thấp thanh quản, tạo nên thanh âm ngang và bị nuốt âm, thiếu đi sự cân bằng ổn định thực sự và sự hỗ trợ. Tuy nhiên, thanh quản của anh thường ổn định ở quãng D3 trở lên, với sự hiện diện của head voice.

Giọng thật của anh được thể hiện ở quãng trộn âm bằng việc phát triển tới mức ấn tượng là nốt G5. ChangMin là một trong những giọng ca nam hiếm hoi của K-pop có khả năng giữ vững giọng ở quãng cao tới thế mà không bị vỡ thanh âm trong nhiều năm. Vấn đề với nó là, ChangMin chưa bao giờ thực sự học cách phát triển giọng thật của mình, kể cả trong quãng âm vực thấp, trong việc mix giọng để tạo ra thanh âm dày và có sự cộng hưởng. Giọng anh thường rất nhẹ, mỏng và mang tính giọng óc cao xuyên suốt tất cả âm vực và thiếu đi sự linh hoạt, thường trở nên quá sáng và chói tai. Mixed voice của anh mang nặng head voice và thường không thể cân bằng, nhưng cũng đủ khả năng giữ thanh quản ổn định ở vị trí các nốt từ G4 trở xuống, dựa vào sự nhẹ nhàng của việc tạo tông giọng. Có thời điểm, trong các màn trình diễn live ví dụ như “I Wanna Hold You”, anh có khả năng tạo ra tông giọng mở và thoải mái hơn với quãng nốt G4, mặc dù không phải là nhất quán.

Tuy nhiên mixed voice của anh trượt theo con đường tệ hơn mỗi khi anh cố gắng lên những nốt cao hơn quãng G4, rất nhiều lần ChangMin không đủ khả năng để dẫn dắt giọng của mình tiếp tục ổn định, nuốt âm và thiếu đi quá trình. Cổ họng của anh có xu hướng đóng, cuống lưỡi có xu hướng căng lên và thanh quản bị đẩy lên, khiến thanh âm trở nên mỏng, gượng ép và mang nặng tính mũi. Anh có thói quen xấu khi liên tục chọn hát những bài hát ở quãng âm vực này, lên cao hơn C5 khá thường xuyên, khiến giọng hát trở nên căng thẳng mỗi lần lên nốt cao tới mức ấy. Anh không có xu hướng tạo âm cổ họng hay đẩy giọng thật của mình lên, mà thường lựa chọn tạo giọng đặc tính mũi, có chút rên rỉ và thói quen đó dần dần huỷ hoại giọng anh qua thời gian.

Giọng giả thanh (falsetto) của ChangMin có xu hướng được thể hiện thường xuyên khi anh không chuyển đổi mượt mà được giữa quãng âm vực giữa và quãng âm vực cao, trở nên hơi thiếu tính ổn định và thiếu hụt đi quá trình hiện diện trong việc pha giọng. Mixed voice của anh có thể căng thẳng, nhưng ít nhất trong quá trình vẫn được thể hiện dù là thông qua mũi. Giọng giả thanh của anh thì khác, nó trở nên mỏng và kèm theo hơi thể, không có khả năng thực sự phô bày được chất giọng và xuyên suốt quá trình biểu diễn. ChangMin sau đó sẽ ép buộc tạo ra quá trình bằng việc tăng thêm áp lực căng thẳng cho thanh đới của anh, mang thêm nhiều không khí hơn và thanh âm chói, gay gắt được tạo ra khi anh thường xuyên sử dụng mixed voice và quãng âm vực của giọng giả thanh.

Kĩ năng lấy hơi của anh không phải hoàn toàn sai, tuy nhiên anh không quá tập trung vào việc thực sự lấy hơi cần thiết để có thể hỗ trợ cho giọng của mình. Anh chưa bao giờ tập trung vào việc phát triển giọng thật để tạo ra thanh âm cộng hưởng thường xuyên hơn, thiếu đi sự cộng hưởng giọng thật. Anh nhiều lần thể hiện tính mũi trong giọng của mình, nhưng nó không biến mất trong việc hỗ trợ cho quãng giọng và việc anh có thể giữ thanh quản ổn định xuyên suốt vùng hỗ trợ của mình. Một trong những vấn đề lớn nhất của anh là kĩ thuật “smile”. Có vẻ như là ChangMin được dạy rằng nếu anh cười khi hát nốt cao, anh sẽ có khả năng lên được các nốt cao hơn và pha giọng tốt hơn. Nó được thể hiện rõ ràng trong nhiều phần trình diễn của “이것만을 알고가 (Before U Go)”, khi lên các nốt cỡ F#5, có xu hướng xuất hiện cùng với một nụ cười trên gương mặt. Vấn đề của kĩ thuật này là nó kéo giãn đôi môi hơi quá rộng, tạo ra sự căng thẳng không chỉ cho môi và cơ vùng mặt, mà đồng thời cũng kéo thanh quản lên cao, tiếp tục gây căng thẳng cho lưỡi và cổ họng, và cuối cùng thì tới vòm miệng của anh, một nguyên nhân gây ra tính mũi trong giọng ca của anh. Độ rung thường được sử dụng tốt và thi thoảng nó có thể là một sự rung hơi gò ép của thanh quản khi cố ép lên nốt cao thay vì thả lỏng chúng, đóng cổ họng lại. Tốc độ của sự rung do đó mà không có sự đồng đều và nhất quán trong các lần thể hiện.

Qua nhiều năm, anh có khả năng phát triển và cải thiện ngữ điệu và sự ổn định của mình, chất giọng cũng không còn hoàn toàn là tính mũi khi thi thoảng anh có thể nâng vòm họng và tạo ra thanh âm không mang tính mũi. Kĩ năng trong giọng hát của anh thường xuyên được đánh giá quá cao chỉ vì việc anh có thể lên cao tới mức nào, mà thiếu đi việc nhìn nhận thẳng thắn vào cách làm sao mà anh lại lên cao được như thế. Độ chính xác trong vocal runs, sự cộng hưởng đầy đủ và hoàn thiện hơn khi bỏ đi kĩ thuật “smile” và độ tối khỏi mixed voice, cùng với việc thực sự hiểu được khi nào nên hát với chất giọng của mình có lẽ sẽ là những phần sáng suốt nhất ChangMin có thể tập trung để cải thiện giọng hát. Tuy nhiên anh vẫn có khả năng cung cấp một cách chính xác chất giọng của mình để hoà hợp và hoàn toàn quyện với sự trình diễn chung, thể hiện anh làm một thành viên của nhóm nhạc tốt hơn là nghệ sĩ solo.

Kĩ năng trong trình diễn âm nhạc:

ChangMin thể hiện sự thiếu đi khả năng trong việc thể hiện các nốt nhạc hoàn hảo với kiểm soát hơi thở và nhịp điệu. Giọng hát của anh vào các thời điểm khác nhau có sự thể hiện khác nhau (thiếu đi sự nhất quán), nhưng điều đó chỉ giúp tạo ra sự thiếu chắc chắn và không tự tin trong trình diễn, kết quả là vocal runs vụng về, sự chuyển đổi trong kĩ thuật và tạo ra tông không ổn định. Anh không thực sự thử cố gắng và thay đổi trong âm nhạc, thể hiện sự nhận thức giới hạn trong giọng của bản thân, tuy nhiên điều đó không giúp cho anh tiếp tục tiến xa và xa hơn nữa trong tư cách một ca sĩ và nghệ sĩ âm nhạc.

Đánh giá

1.5/7: Weak to Average Vocalist. (Từ yếu tới trung bình.)

Translator’s Note: According to admins at kpopvocalanalysis, ChangMin is really an overrated vocal in K-pop industry. Welll I’m not really suprised… The best thing people often talk about his voice is his high notes, but his high notes show a list of disadvantages at all.

ahmin3 about CM vocal 2
… and I will not give you the rest of the comment =)) Better next time! =))

P.s 1: Should I translate the analysis of JYJ JunSu and JYJ JaeJoong soon?

P.s 2: Mình đọc ở một bài viết về kĩ thuật khác rằng vocal runs và melismas không hoàn toàn là một. Thôi okay, mình sẽ tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này sau. Dẫu sao thì mình tin đa phần người đọc mấy bài phân tích này cũng không quá rành rẽ về nhạc lý và kĩ thuật thanh nhạc, và sự phân biệt giữa melismas với vocal runs không quá rõ ràng như cách người ta phân biệt giọng tenor và giọng baritone chẳng hạn.

Advertisements

3 thoughts on “TVXQ! ChangMin’s Vocal Analysis | kpopvocalanalysis.

  1. Thực ra nói đến nhạc lý thì mình có thể coi là mù nhạc, nên đọc các bài viết này chỉ coi như tham khảo thôi, nhưng rất cảm ơn công sức dịch của bạn (vì nếu mình tự đọc Eng thì chắc ngất mất lol). Vì không đủ kiến thức nên không dám bàn đến thứ hạng của blogger đánh giá, duy chỉ có quan điểm overrated của blog này, họ cho rằng DB xét về riêng lẻ đều là overrated từ trước đến giờ, tuy nhiên mình thắc mắc không biết các đánh giá cao cho vocal của DB trước giờ có xét cả các yếu tố emotion, stage presence… không, vì nếu có thì tiêu chí của nó đã rất khác so với blog này (vốn chỉ xét về kĩ thuật). Theo mình hiểu thì giọng của các thành viên solo (Jae Joong, Junsu) được đánh giá cao là xét tổng thể nhiều yếu tố mà nhỉ :”/

    Anw hóng chờ thêm các bài dịch khác của bạn nhất là các thành viên như Yesung, Tae Yang, Taeyeon, Jessica… không phải fan nhưng đây là những giọng hát trong Kpop mà mình để ý, nên cũng tò mò không biết về kĩ thuật thì họ được đánh giá thế nào :3

    Like

    1. Cảm ơn bạn 🙂 Không biết bạn có đọc trang tổng hợp chính của mình chưa, vì ở đó mình có trans luôn cả phần thuật ngữ cùng vài lời nói của các chủ blog về tiêu chí đánh giá của họ. Chính xác, các đánh giá cao cho vocal của DB trước giờ xét thêm các yếu tố khác, trong đó yếu tố về cảm xúc, kĩ năng trình diễn và khả năng hoà âm, cảm nhạc… đều được xét đến. Nếu không biết về kĩ thuật để phân tích, đa phần người nghe sẽ thiên về yếu tố cảm xúc hơn. Ví dụ như JunSu và TaeYeon là hai giọng ca mình biết mà được coi như có khả năng thiên phú về việc đưa cảm xúc vào giọng hát. Chủ blog này đang đưa ra đánh giá chung chỉ thuần tuý trên yếu tố kĩ thuật, coi như phân tích về kĩ thuật chiếm tới 90% bài phân tích của họ 🙂

      À và phân tích giọng của YeSung đã có người làm rồi, và của TaeYeon đã có bạn đăng kí dịch rồi, bạn có thể thấy trên facebook K Crush Vtrans 🙂

      Liked by 1 person

Feedback, please ~~

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s