[Trans] Kpop Vocal Analysis.


Translator’s Note: Trang tổng hợp các bài trans phân tích giọng ca của một số idol Kpop của mình. Các phần chữ màu xanh ngọc này là phần không có trong bài gốc, do mình bổ sung thêm.

Untitled

Permission
Thực ra trong câu hỏi của mình có 1 lỗi ngữ pháp =)))

Nguồn: kpopvocalanalysis.wordpress.com/

DO NOT TAKE OUT WITHOUT MY PERMISSION!

Trước tiên thì mình xin trích lại nguyên văn lời của chủ blog nhé:

“This blog is dedicated to compile vocal analyses done by our contributors in order to satisfy everyone’s curiosity regarding their idols’ vocal. The analysis will be based solely on VOCAL TECHNIQUE, not tone, timbre, emotions, stage presence, etc.

The analysis might change according to their latest performance.”

[Blog này dành riêng để phân tích giọng hát của các thần tượng Kpop được thực hiện bởi các thành viên của chúng tôi (họ đều học thanh nhạc) để đáp ứng sự tò mò của mọi người liên quan đến giọng hát của thần tượng của mình. Bài phân tích chủ yếu dựa trên KĨ THUẬT CỦA GIỌNG HÁT, không phải chất giọng, âm sắc, cảm xúc, phần trình diễn trên sân khấu hay những yếu tố khác.

Sự phân tích có thể thay đổi tuỳ theo màn trình diễn gần nhất của họ.]

Và:

“FYI, Among KPOP idols there is NO ONE who is considered Excellent/Amazing/Fantastic vocal-wise (Imagine Maria Callas, Mariah Carey, Natalie Weiss and Whitney Houston as amazing/fantastic). They are Great/Good at best.”

[Thông tin thêm cho các bạn là trong số các thần tượng Kpop thì KHÔNG CÓ AI được xếp loại giọng hát xuất sắc/ tuyệt vời/ hoàn hảo (hãy tưởng tượng Maria Callas, Mariah Carey, Natalie Weiss và Whitney Houston là ở mức tuyệt vời/ xuất sắc). Kpop idols được xếp hạng cao nhất là Great/Good.]

Cá nhân mình thấy bài phân tích của các thành viên trong Blog này đều tỉ mỉ, công bằng và chính họ cũng nói họ đánh giá thuần tuý trên kĩ thuật. Ban đầu mình cũng thấy rất lạ khi các giọng hát được coi là khủng của Kpop như JunSu (JYJ), JaeJoong (JYJ), Lee Hi, YoSeob (B2ST), TaeYeon (SNSD),… không xếp hạng từ 5/7 trở lên, hay người có chất giọng lạ và độc như Park Bom (2NE1) lại có 1/7, nhưng đây là vấn đề về KĨ THUẬT xử lý giọng hát của họ. Dĩ nhiên nếu bạn là fan thì sẽ thấy giọng hát quen thuộc và hay với mình, nhưng đừng tức giận khi thấy thần tượng của mình xếp hạng không cao như bạn tưởng. [Mình đọc cmt trên wordpress của kpopvocalanalysis và thấy 99% người cmt đều lịch sự cả, nhưng mình cũng từng thấy qua có người đưa ra cái bản danh sách này trên facebook và có những facebooker nhào vào chửi hư cấu, idol tui là nhất thậm chí chắc tai chủ blog bị hỏng hay là tai trâu này nọ… Chắc là bỏ chưa được tí thời gian nào tìm hiểu thông tin tại sao người ta lại xếp như vậy và đó là thành phần tay nhanh hơn não nên có dộng mười bài phân tích kĩ càng vào mặt cũng không có tỉnh ra nổi đâu, thặc là tội cmn nghiệp.]

Mặt khác, cá nhân mình nghĩ vì đây là phân tích về kĩ thuật, cho nên nếu cộng thêm các yếu tố không được phân tích, đặc biệt là cảm xúc, chất giọng… thì việc giọng của một idol được yêu thích rộng rãi hay không là một câu chuyện khác đi rồi. Mình thấy có nhiều người được yêu thích vì khả năng truyền đạt cảm xúc vào bài hát như TaeYeon (SNSD), JunSu (JYJ)…, hoặc là do sở hữu chất giọng độc lạ như Park Bom (2NE1), Onew (SHINee)… mà

Danh sách thuật ngữ:

Tones/Semitones/Notes/Key (Âm (cung)/ Bán âm (nửa cung)/ Nốt/ Khoá)

[C: Do – D: Re E: Mi – F: Fa – G: Sol – A: La – B: Si]

Khoá (tiếng Pháp: Cief) của một bài hát là kí hiệu trong nhạc phổ của bài hát đó để biểu lộ cao độ của nốt nhạc được viết ra (có ba loại khoá trong âm nhạc hiện đại là khoá Sol G-cief, khoá Fa F-cief và khoá Do C-cief). Có tổng cộng 12 nốt, gồm: C C#/D♭ D D#/E♭ E F F#/G♭ G G#/A♭ A A#/B♭ B và sau đó lại quay về C, hoàn thiện một quãng tám. Khoảng cách giữa hai nốt có thể là một cung hoặc nửa cung, ví dụ khoảng cách giữa nốt C và C#/D♭ là nửa cung, trong khi C và D cách nhau 1 cung. Khoá chính sẽ theo thứ tự chia khoảng cách 1 – 1 – 1/2 – 1 – 1 – 1 – 1/2, vì thế khi khoá C chính, thứ tự là C D E F G A B C. Mặc dù không có thăng hay giáng khi biểu diễn trên khuông nhạc E và F hay B và C, nhưng khoảng cách giữa các nốt trong hai cặp này là nửa cung.

tone semitone
Cre: On pic. Đừng để ý cái khoá Sol xấu đau đớn kia :v

# biểu thị cho thăng và ♭ biểu thị cho giáng và bạn thêm kí hiệu thăng hay giáng phụ thuộc vào khoá. Ví dụ C# và D♭ là cùng một nốt với tên gọi khác nhau, C# D# E# F# G# A# B# C# và D♭ E♭ F G♭ A♭ B♭ C D♭, trên piano thì đó là cùng một nốt nhưng khác tên gọi.

Intonation (Ngữ điệu)

Khả năng có thể giữ được cao độ của khoá chính. Có ngữ điệu tốt có nghĩa là sẽ không tuỳ tiện thăng giáng hay hát một nốt nhạc không nằm trong hợp âm của bài hát. Ngữ điệu hơi cao là khi thanh âm cao hơn cao độ cần thiết nhưng chưa chạm tới nốt kế, ví dụ chạm tới cao độ nằm giữa C và C#, và ngữ điệp hơi thấp (giáng) là một nốt hơi nằm dưới cao độ cần thiết, ví dụ một nốt nằm giữa C và B.

Larynx Position (Vị trí thanh quản/ Vị trí cao/ Vị trí thấp/ Vị trí bình thường)

Thanh quản là một bộ phận của cơ thể để tạo ra âm thanh. Các cơ hình bán cầu ở cuống họng (cấu tạo nên vocal cords) rất nhỏ và được chia làm hai phần, có khả năng đóng hoặc mở để tạo rung động, cọ xát vào nhau thành nên âm thanh. Tốc độ của sự rung quyết định cao độ mà một người có thể hát. Giống như là việc điều chỉnh dây ghitar, thanh âm cao và mỏng hơn khi các sợi dây thanh đới được kéo căng, và khi dây chùng và dày hơn thì âm thanh sẽ trầm đục hơn. Để có thể đạt được cao độ nào đó, người hát cần thả lỏng hệ thống phát âm và không đặt áp lực lên hệ cơ ở cổ họng. Nếu dây thanh quản ở vị trí bị đẩy xuống thấp, nó tạo ra thanh âm trầm và tone “có hồn” giả; còn nếu dây thanh quản được đẩy lên cao, nó tạo ra âm thanh mỏng, trong vắt và có chất lượng hơn. Vị trí tự nhiên của thanh quản là không căng không giãn khi nó đang thả lỏng, và nếu nó bị ép kéo lên hoặc đè xuống, điều đó có nghĩa các cơ ở cổ họng đang tạo ra áp lực và thanh đới cố gắng đáp lại bằng việc chuyển sang một vị trí không thoải mái và không tự nhiên để có thể chạm đến những nốt nằm ngoài vùng giọng của người hát.

Tonality/Tone Production (Âm điệu/ Tạo ra âm điệu)

Cách mà tông giọng và âm thanh được tạo ra khi được hỗ trợ tốt. Giọng hát mượt và ổn định, không có sự hạn chế về thanh đới hay tạo áp lực, tone giọng trong và là giọng thật của người hát, không có nốt chói gắt, hơi thở lộ rõ rệt, giọng hoàn toàn là head voice hay sự căng thẳng.

Vibrato (Độ rung)

Bước chuyển giữa hai nốt nhạc, nhanh chóng và có kĩ năng duy trì cao độ nốt ổn định. Sự khác biệt giữa các nốt thường ít hơn quãng nửa cung. Một giọng hát có độ khàn rung gượng ép thường được tạo nên một cách nhân tạo bằng việc sử dụng cổ họng, thay vì độ ngân rung tự nhiên mà thanh quản có thể tạo ra nhờ thả lỏng với sự hỗ trợ tốt và ổn định của hơi thở.

Stability (Tính ổn định)

Tính ổn định của một giọng hát là có nghĩa giọng hát ấy không gắt, chói tai khi lên nốt cao và không run rẩy, vỡ chất giọng hay không được hỗ trợ.

Registers (Âm vực)

Giọng thật (Chest voice), mức thấp nhất. Giọng mũi/ giọng óc (Head voice), mức cao nhất. Giọng pha (Mixed voice), ở khu vực belting của giọng hát.

Support (Hỗ trợ)

Cách mà từng giọng ca riêng biệt sử dụng đúng kĩ thuật thở và cơ hoành để hỗ trợ tốt hơn, chuẩn bị và giữ ổn định cho giọng hát của họ.

Placement vs Resonance vs Projection (Vị trí/ Sự lựa chọn, cộng hưởng và quá trình)

Cộng hưởng là thanh âm tối ưu mà một ca sĩ nên tập trung vào khi hát. Đó là một thanh âm dày, vang, trong và khoẻ và sẽ không hề có cảm giác mỏng, yếu hay nhỏ nhẹ. Một giọng ca có khả năng cộng hưởng sẽ sử dụng nhiều kĩ năng và vị trí cơ thể, ví dụ giọng của họ có thể xuất phát từ ngực (chest voice), mũi (head voice) hay là trên cả cổ họng (falsetto) (khu vực xương gò má, không phải mũi) để phát triển giọng của họ, trong từng khu vực âm giọng khác nhau. Một giọng ca có thể cộng hưởng trong mixed voice của họ bằng việc bình thường pha trộn giọng falsetto và chest voice, hay khi họ lên cao hơn, với cộng hưởng cả head voice. Thanh âm cộng hưởng luôn luôn trở thành thanh âm tốt, trường hợp này thì sự cộng hưởng không có nghĩa là lớn hơn, bởi vì thanh âm lớn có thể trở nên gay gắt và chói tai. Có thể thực hiện dưới sự kiềm chế với chút gượng ép, tuy nhiên thực tế thì một sự cộng hưởng dưới áp lực không nên được thể hiện.

Vocal Range vs Supported Range vs Tessitura (Quãng giọng, Âm vực hỗ trợ và Tessitura)

(Tessitura: khu vực mà tất cả những nốt của giọng hát một cá nhân nào đó có thể ngân được).

Quãng giọng là khoảng cách giữa nốt cao nhất và nốt thấp nhất một cá nhân có thể đạt được. Tessitura phụ thuộc vào giọng của từng cá nhân và chừng nào giọng của họ còn thoải mái, còn toả sáng rực rỡ nhất và trình bày tốt nhất. Một khu vực hỗ trợ trong quãng giọng bao gồm cả các nốt ngoài khu vực tessitura nơi mà giọng ca của cá nhân đó thường thì không đạt tới được tốt, nhưng dựa vào kĩ năng của giọng ca đó mà họ vẫn có thể tạo ra tone, hỗ trợ, quá trình và sự ổn định. Ví dụ trong nhạc cổ điển, tessitura của giọng nữ cao (sorpano) nằm khoảng giữa A3/C4 tới A5/C6, tuy nhiên trong nhạc đương đại thì một giọng nữ cao hát tới C6 rất hiếm và không cần thiết; một giọng nữ cao đương đại, ví dụ như Hyorin, có khả năng giữ sự cộng hưởng ổn định tới tận E5 hay F5, trong khi hầu như các giọng ca nữ cao khác có thể đạt tới A5 mà không vấn đề gì. Tuy nhiên cô ấy có thể hát ở quãng thấp F#3/G3 với sự hỗ trợ chính xác, mặc dù nó nằm ngoài vùng tessitura trong âm vực của cô, cô vẫn có thể giữ được sự hỗ trợ và quá trình tới tận khu vực ấy.

Musicianship/Musicality (Kĩ năng trong trình diễn âm nhạc)

Musicianship là khả năng biến đổi mọi bài hát được đưa ra cho bản thân thành một bài hát mang dấu ấn của bản thân, thường có đặc điểm riêng. Điều này bao gồm cả sự thay đổi giai điệu, sự thay đổi cách ngắt nghỉ nhịp điệu và thêm vào các nhấn nhá, luyến láy riêng. Musicality là khả năng cảm thụ và dẫn dắt, giải thích được âm nhạc chính xác theo từng thể loại nhạc, bằng cách thêm vào các hiệu ứng đúng trong giọng hát (ví dụ như độ thô ráp, nhịp thở, tiếng gầm gừ, vocal runs, ngân rung) và biết cách chơi bản nhạc bằng việc thêm vào cường độ cho nốt nhạc khi kiểm soát giọng hát (ví dụ hát nhẹ hơn, hát lớn hơn, mạnh mẽ hơn vào đúng khoảnh khắc đối với từng bài hát).

Legato/Staccato

Legato (legato [leˈɡaːto] (tiếng Italia nghĩa là “tied together”; French lié; German gebunden): Một thuật ngữ âm nhạc thường được dùng để miêu tả về một đoạn nhạc. Trong suốt quá trình, âm giai được chơi/ hát lên mượt mà và trôi chảy, kết nối với nhau mà không bị ngắt ngang lần nào. Trong khi đó staccato [stakˈkaːto] (tiếng Italia cho “detached”) nghĩa là nhấn mạnh từng nốt riêng lẻ nhưng không có quãng ngắt nào quá một giây giữa mỗi nốt. Legato là hình thức cơ bản nhất của hát thông qua kiểm soát hơi thở và sự hỗ trợ chính xác.

Agility (Độ nhanh nhẹn/ độ nhạy giọng)

Độ nhanh nhạy của giọng là một sự thêm thắt bổ sung và nó có nghĩa là khả năng có thể hát liên tiếp nhiều nốt trôi chảy và nhanh chóng, có thể tách rõ âm vực của từng nốt khi hát nhưng vẫn kết nối được chúng với nhau mà không làm hỏng đoạn hát. Thường được gọi là melismas hay vocal runs.

Head voice: Giọng óc/ Giọng mũi. Và do thông tin mình tìm kiếm được qua 1 số trang có bài liên quan tới thanh nhạc ở Việt Nam thì hai cách dịch này vẫn chưa hoàn toàn thống nhất, có người nói giọng óc mới đúng còn giọng mũi sai, có người nói dịch giọng mũi cũng khá lâu rồi và không bị phản đối… Mình không học thanh nhạc nên xin đứng ngoài lề chuyện phân tích đúng sai của từ được dịch, còn từ ban đầu mình chọn dịch là “giọng mũi” vì mình thích từ đó hơn từ “giọng óc”, lựa chọn này là theo cảm tính cá nhân; nhưng sau một số cmt góp ý, mình quyết định sửa lại thành nguyên văn là “head voice”. (Cảm ơn những bạn đã lưu ý cho mình chuyện này.)

Falsetto: Giọng giả thanh/ Giọng gió. Về kĩ thuật có chút tương tự head voice, nhưng sự phát triển cho giọng hát và hiệu quả thì rất khác nhau. Nhìn chung, falsetto sẽ yếu, không rõ ràng và chứa nhiều hơi hơn bình thường so với head voice.

Chest voice: Giọng thật/ Giọng ngực.

Mix voice/ Mixed voice: Một kĩ thuật thanh nhạc hiện đại, hiểu là cách pha trộn và cân bằng kết nối giữa head voice và chest voice, để tạo độ vang, sáng, dày, khoẻ cho nốt nhạc, đặc biệt là khi belting (hát những nốt cao với chest voice thay vì head voice).

Còn cái cách phân loại, nguyên do tại sao lại chia vào các hạng từ 1 ~ 7 cũng có, nhưng mình lười quá nên chưa biết bao giờ mới hoàn thiện cái đó, tính sau :v

List đã trans:

Super Junior KyuHyun Vocal Analysis – Analyst: ahmin3

On August 8, 2015. Rating: 5.5/7 (Good to Great Vocalist)

TVXQ! ChangMin Vocal Analysis – Analyst: ahmin3 

On July 7, 2014. Rating 1.5/7 (Weak to Average Vocalist)

JYJ JaeJoong Vocal Analysis – Analyst: ahmin3

On July 13, 2014. Rating 3/7 (Above Average Vocalist)

JYJ JunSu Vocal Analysis – Analyst: ahmin3

On July 14, 2014. Rating 4/7 (Competent Vocalist)

Mamamoo Solar Vocal Analysis – Analyst: Haruko

On December 25, 2015. Rating 3/7 (Above Average Vocalist)

Mamamoo Hwasa Vocal Analysis – Analyst: Haruko

On December 25, 2015. Rating 3/7 (Above Average Vocalist)

Mamamoo Wheein Vocal Analysis – Analyst: Haruko

On December 25, 2015. Rating 3/7 (Above Average Vocalist)

On-going:

Super Junior M Henry Dec 25, 2015

Advertisements